Add Smilies

I. Cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của Lí Bạch
Lý Bạch (701- 762) tự Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, quê ở Thành Kỷ, Lũng Tây (nay thuộc tỉnh Nam Túc). Sinh ra và lớn lên ở làng Thanh Liên, huyện Chương Minh (còn gọi là Long Xương hoặc Xưởng Minh) thuộc Miên Châu (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên).
Thiếu thời Lý Bạch rất tài hoa. Từ nhỏ ông đã giỏi thơ phú, trọng nghĩa khinh tài, thích múa kiếm, thích làm hiệp khách. Lúc nhỏ ông được học nhiều, tư chất thông minh. Chính Lý Bạch cho ta biết: “Ngũ tuế tụng lục giáp, Thập tuế quan bách gia” (5 tuổi đã đọc sách dạy can chi, 10 tuổi đã xem sách bách gia chi tử), “Thập ngũ quan kỳ thư, Tác phú lăng Tương Như” (15 tuổi đã xem những sách lạ, làm phú lấn át cả Tư Mã Tương Như). Ngoài ra còn học đấu kiếm, kiếm là người bạn thân suốt đời, cũng là vật ký thác lý tưởng của nhà thơ. Năm 18 tuổi ông lên Đái Thiên Sơn đọc sách và giao du với một số đạo sĩ. Từ 20 tuổi ông đi chơi nhiều nơi danh lam thắng cảnh ở đất Thục, 25 tuổi nhà thơ xuống núi Nga Mi, Từ giã cha mẹ, quê hương, chống kiếm viễn du.
Năm 26 tuổi Lý Bạch rời Ba Thục. Vốn là người say cảnh thiên nhiên hùng vĩ, non xanh nước biếc, trước khi lên kinh thành, Lý Bạch du ngoạn hồ Động Đình, đến vùng sông Tương, qua Giang Hạ, Kim Lăng, Dương Châu, vào Ngô Việt lại quay về Giang Hạ, rồi đến An Lục. Ở An Lục ông lấy vợ. Vợ ông là cháu gái quan tể tướng nhà Đường hồi hưu là Hứa Ngữ Sử, ở đây ông quen Mạnh Hạo Nhiên hai người gắn bó mãi sau này và đã có nhiều bài thơ viết về mạnh Hạo Nhiên.
Khát vọng tham gia chính trường của Lý Bạch lúc này thật mạnh. Theo ông đi thưởng ngoạn phong cảnh chủ yếu là để mở rộng giao du, tạo điều kiện cho việc tham dự vào trường chính trị lập nên công danh sự nghiệp. Lý Bạch cho rằng kẻ sĩ, kẻ đại trượng phu phải có chí tang bồng hồ thỉ, phải có chí bốn phương (Thư gửi Bùi Trưởng Sử). Ông cho mình là kẻ hùng tài, với tài năng kiệt xuất một ngày kia có thể từ địa vị khách áo vải nhảy lên hàng khanh tướng, làm rõ lời bàn của Quản Trọng, Án Anh, tính mưu chước của đế vương, đem tài năng, trí tuệ nguyện giúp nhà vua để cho thiên hạ yên ổn, bốn biển thanh bình (Thư để lại thay Thọ Sơn đáp Mạnh Thiếu Phủ).
Năm 742, Lý Bạch được một đạo sĩ cũng là một nhà thơ là Ngô Quân tiến cử lên vua Đường, sau đó ông về Trường An kinh đô nhà Đường. Ở đây ông được Hạ Tri Chương rất phục tài, khen ông là tiên trên trời xuống trần (trích tiên). Lý Bạch nổi tiếng ngay, giữa kinh thành, bởi tiếng tăm của Hạ Tri Chương rất lớn hồi này.
Lý Bạch được mời vào cung, Huyền Tông ban cho ông chức Hàn Lâm cung phụng. Thực chất chức này chỉ là người ở bên vua giúp vui trong các cuộc yến tiệc,… Đường Huyền Tông lúc này đã say mê hưởng lạc, cầu tiên, cầu thuốc trường sinh và bên mình lại có Dương Quý Phi. Lý Bạch thường chỉ được hầu hạ bên vua, mà thơ phú giữa bữa tiệc, tô thêm chất hào hoa cho vua, mà mình chẳng qua cũng chẳng hơn đám cô nhi, vũ nữ,… Có thể nói phần nào Lý Bạch đã vỡ mộng, tâm tình bi phẫn bao nhiêu khát vọng, hăm hở vụt tắt. Ba năm ở kinh thành Lý Bạch hiểu rõ sự xa hoa thối nát của đám quyền quý và mộng trở thành người kinh bang tế thế của ông đã không còn như xưa.
Ông chỉ còn thú vui uống rượu, làm thơ, vui chơi với bè bạn sau đó dâng sớ xin rút khỏi triều đình. Rời Trường An sang Lạc Dương, ông gặp Đỗ Phủ, hai người kết bạn, rồi cùng nhau cao thích sang vùng Sơn Đông săn bắn ngao du sơn thuỷ. Chia tay nhau, Đỗ Phủ về Trường An, Lý Bạch lại tiếp tục ngao du khắp lưu vực Hoàng Hà và Trường Giang. Tin ở tài sức mình và phần nào thấy trách nhiệm của kẻ đại trượng phu trước tình hình xã hội đã bắt đầu rối ren, thế nước suy yếu, Lý Bạch vẫn muốn gặp lại dịp lập nên sự nghiệp mặt khác ông bất đắc chí, mầm mống tư tưởng tiêu cực bắt đầu xuất hiện . Rất nhiều lần ông thổ lộ ý muốn ở ẩn. Song ông phải là nhà thơ xuất thế nên khi sự biến An Lộc Sơn xẩy ra ông hăm hở xông vào trường chính trị.
Khi An Lộc Sơn chiếm Trường An. Huyền Tông chạy vào đất Thục ra lệnh cho con là Vương Lĩnh, Lý Lân bảo vệ miền trung hạ du Trường Giang. Lý Lân mời Lý Bạch ra giúp và ông đã nhận lời, nhưng khi Lý Lân bị giết thì Lý Bạch bị kết tội mưu phản, phải đi đày Quý Châu, đi được nửa đường thì được ân xá. Năm 761, ông xin gia nhập ngũ để truy kích tàn quân Sử Triều Nghĩa nhưng giữa đường thì bị bệnh phải trở về và năm sau đó thì mất.   
Lý Bạch là một nhà thơ nổi danh thời thịnh Đường.Khi ông mất, Lí Đăng Dương sưu tầm thơ ông. Theo đó thì nhà thơ làm khoảng 20,000 bài, nhưng ông không để tâm cất giữ nên nay chỉ còn khoảng 1,800 bài.
Cùng với Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị, ông là một trong 3 nhà thơ lớn của Đường thi Trung Quốc. Sự nghiệp sáng tác thơ ca của ông được kéo dài mãi cho đến tận những năm cuối đời. Tuyệt đại bộ phận thơ Lý Bạch là trữ tình, trong đó có bộ phận không nhỏ mang đậm màu sắc lãng mạn.
II. Nội dung thơ ca
  
II.1. Tư tưởng trong thơ Lý Bạch
Lý Bạch vốn là người tự do, ông đọc sách nhiều. Tuy tam giáo bao trùm đời sống tư tưởng, nhưng thâm tâm Lý Bạch, đã hình thành một lối sống tự do cho riêng mình, lấy tài mình để, ngang dọc với đời ,với ý nghĩ không chịu khuất mình, không cầu cạnh ai, giao thiệp ngang hàng với các bậc vương hầu,… Ý chí lớn như thế nên Khổng Tử, người được thiên hạ coi là bậc thánh ông cũng chẳng coi ra gì. Đã có lần ông diễu Khổng Tử:
Sở Cuồng chính là ta
Hát rong cười Khổng Tử…
Yêu thiên nhiên, thích bản chất trời cho của vũ trụ tư tưởng của Lý Bạch thiên về đạo Lão… Có lẽ ông đọc nhiều Lão -Trang nên trong sáng tác của ông người ta còn thấy những dấu ấn của những tư tưởng của Trang Tử.
Lý Bạch còn mang trong mình tư tưởng kiếm khách, hiệp khách. Trong thơ ông thường hay nhắc đến Kịch Mạnh, một nghĩa hiệp nổi tiếng thời Chiến Quốc. Hiệp khách hành là một bài thơ ca ngợi các bậc vung kiếm dẹp những chuyện bất bằng, sẵn sàng làm những việc phi thường để trả nghĩa lớn:
趙客縵胡纓
吳鉤霜雪明
銀鞍照白馬
瘋沓如流星
Triệu khách mạn hồ anh
Ngô câu sương tuyết minh
Ngân yên chiếu bạch mã
Táp đạp như lưu tinh
         Dịch:
Khách nước Triệu mang dải mũ thô
Gươm Ngô câu sáng loáng như sương tuyết
Yên bạc rạng chiếu ngựa trắng
Bời bời lấp lánh như sao xa.
                            
Nghiêng về chí hướng này,cũng phù hợp với tính tình phóng khoáng của Lý Bạch… Hiệp khách thường ở nơi núi non, như một loại bán tiên (một nửa là tiên). Bởi cõi tiên toàn là người trong sạch:
“Người trời hiền, chuộng yên
Trăng vốn thường đa cảm”
( Cổ lãng nguyệt hành)
Ông từng tự hào” Tài tôi có thể giúp nước, cứu đời, khí tiết tôi có thể sánh với Sào Phủ, Hứa Do, văn tôi có thể biến đổi phong tục, trí tội có thể hiểu mọi lẽ của trời đất và con người”. Trong bài phú Đại bàng, ông đã đối lập tư thế hùng dũng hiên ngang của đại bàng với vẻ dung tục tầm thường của chim hộc. Hình ảnh chim đại bàng xuất hiện không ít lần trong thơ văn
Đại bàng một lúc theo gió
Chín vạn dặm cao vút tận trời
Dẫu khi gió ngừng, sa xuống đất
Chân còn lê tới tận biển khơi”
(Tăng Lý Ung)
Hình ảnh chim đại bàng bay cao chín vạn dặm rõ ràng là thoát thai từ Tiêu dao du của Trang Tử, song ở đây không hề mang ý vị tiêu cực, thoát tục.
Cho đến giờ phút cuối, con chim đại bàng :
Giữa trời cánh gãy sức kiệt dần
Hơi gió còn chuyển lay vạn thế.
(Lâm chung Ca)
Cho đến năm cuối đời ông vẫn cất lên tiếng nói hào sảng
Ra cửa vợ con níu áo hỏi
Chinh Tây bao độ trở về ông
Trở về nếu đeo hoàng Kim ấn
Chớ thấy Tô Tần chẳng xuống khung!
Từ biệt vợ lên đường tòng quân
Tư tưởng hăm hở tiến thủ giúp nước cứu đời nói trên có bắt nguồn từ phần tích cực nhập thế của nho gia, song trong thơ ông lại thường xuất hiện những vần thơ phê phán nho giáo khá sắc sảo:
魯叟談五經,
白髮死章句。
問以經濟策,
茫如墜煙霧。
足著遠遊履,
首戴方山巾。
緩步從直道,
未行先起塵。
秦家丞相府,
不重褒衣人。
君非叔孫通,
與我本殊倫,
時事且未達,
歸耕汶水濱 .
Lỗ tẩu đàm ngũ kinh,
Bạch phát tử chương cú
Vấn dĩ kinh tế sách
Mang như truỵ yên vụ
Túc trước viễn du lí
Thủ đới phương sơn cân
Hoàn bộ tòng trực đạo
Vị hành tiên khởi trần
Tần gia thừa tướng phủ
Bất trọng bao y nhân
Quân phi Thúc Tôn Thông
Dữ ngã bản thù luân
Thòi sự thả vị đạt
Quy canh vấn thuỷ tân


Dịch:
Ông già nước Lỗ bàn chuyện năm kinh
Tóc bạc vùi trong những từ chương đã chết
Hỏi ông cách giúp đời, giúp nước
Ông ngơ ngác như từ mây mù rơi xuống
Chân ông đi giày viễn du
Đầu ông chít khăn kiểu phương sơn
Khệnh khạng ông bước trên đường thẳng
Chưa đi đã thấy bụi bay mù mịt
Phủ thừa tướng nhà Tần
Không trọng những người áo dài lụng thụng
Ông không phải là Thúc Tôn Không
So với tôi ông cũng không giống
Chuyện đời ông còn chưa thông tỏ
Hãy về cày ruộng ở bến sông vấn đi.
(Giễu ông đồ nước Lỗ)
Tinh thần lạc quan phóng khoáng của ông in đậm nét trong hàng loạt bài thơ miêu tả cảnh non sông hùng vĩ của đất nước Trung Hoa, từ sông Hoàng Hà, Trường Giang cho đến hồ Động Đình, từ núi Thái Sơn, núi Thái Hoàng cho đến con đường đi lên đất Thục khó, khó hơn đường đi lên trời xanh (Thục đạo chi nan, nan cư thướng thanh thiên).
Tinh thần lạc quan, hào phóng, yêu đời của ông in đậm trong hình ảnh những người phụ nữ hái sen (Thái liên khúc) trong tiếng ca điệu múa của người nông dân thuần hậu (Tặng Uông Lân), trong hình bóng lộng lẫy của người thợ rèn giữa đêm khuya thanh vắng :
爐火照天地,
紅星亂紫煙。
郎明月夜,
歌 曲 動 寒 川。
Lô hoả chiếu thiên địa
Hồng tinh loạn tử yên
Lang minh nguyệt dạ
Ca khúc động hàn xuyên
Dịch:
Cửa lò rực trời đất
Khói tím nhảy tia hồng
Chàng ca, trăng rực sáng
Xao động cả dòng sông
( Thu Phố ca )
Song như ta biết, Lý Bạch cũng đã từng nếm mùi thất bại trên con đường công danh, sự nghiệp, từng chứng kiến tận mắt cuộc sống xa hoa truỵ lạc của cung đình, tiếp xúc ít nhiều với cuộc sống dân chúng.
Mặt khác những học thyết, tư tưởng mà Lý Bạch tiếp thu lại rất đa dạng và phức tạp. Chẳng hạn, Lý Bạch không chỉ yêu thích tư tưởng đạo gia ( học thuyết Lão Trang ) vốn đã phức tạp mà còn say mê cả đạo giáo ( cầu tiên, luyện đan….).
Thơ ông hướng về cái đẹp, ca ngợi cái đẹp và phản ứng với cái xấu. Là hai mặt nhiều khi khó tách rời trong tư tưởng, tình cảm và thơ ca Lý Bạch. dường như ở đây ta bắt gặp cái mà các nhà lý luận hay gọi là tích phân cực trong tình cảm của tác giả lãng mạn.
Thơ Lý Bạch coi khinh bọn quyền quý, phê phán bọn mũ cao áo dài xa hoa thối nát. Bài cổ phong thứ 15 Lý Bạch viết:
奈何青雲士,
棄我如塵埃。
珠玉買歌笑
糟 糠 養 賢 才
Dịch:
Cớ sao bậc cao sỹ
Vứt như rác bên đường
Châu ngọc mua cười hát
Tấm cám nuôi hiền lương
Ông nói đến những thời đen tối do sự xa hoa của vua quan nhà Đường gây ra ngay khi làm quan ở Tràng An trong bài hành lộ nan (đường đi khó) bài thứ 2 ông viết
大道如青天
我獨不得出
羞逐長安社中兒
赤雞白狗賭梨栗
Đại đạo như thanh thiên
Ngã do bất đắc xuất
Tu trục Trường An xã chung nhi
Xích kê bạch cẩn đổ lê lật
Dịch:
Đường lớn như trời xanh
Ta còn chưa đến được
Thẹn không bằng lũ nhóc Trường An
Đá gà, đấu chó chơi thoả thích…
Dẫu đả kích quyết liệt đến đâu rốt cuộc nhà thơ cũng chỉ là một kẻ bướng bỉnh cô độc, nên từ đó đôi khi không khỏi cảm thấy bế tắc rồi đi tìm những lối thoát tiêu cực, coi đời như một giấc mộng lớn (ngày xuân say rượu tỉnh dậy nói chí mình) hoặc dùng rượu để giải sầu:
抽刀斷水水更流,
舉 杯 銷 愁 愁 更 愁。

Cất chén tiêu sầu, sầu cứ sầu
Rút dao chặt nước, nước cứ chảy
Cử bôi tiêu sầu, sầu cánh sầu
Trừu đao đoạn thuỷ, thuỷ cánh lưu
(Tuyên châu Tạ Diễu lâu tiễn biệt hiệu thư Thúc Vân)
Lý Bạch muốn điều hoà những mâu thuẫn trong tư tưởng tình cảm bằng một lối sống độc đáo theo tinh thần của lão tử  công thành, thân thoái:
“事了拂衣去,
深藏身與名”
Sự liễu phất y khứ
Thâm tàng thân dữ danh
Dịch:
Việc làm xong rồi rũ áo đi
Giấu kín thân mình cùng tên tuổi

                                                                             ( Hiệp khách hành )
Nguyện một phen tôn thờ minh chủ
Khi công thành quay trở về rừng cũ
                        ( Viết để lại khi từ biệt  Vương Tư Mã Trung )
Lối ứng xử đó trước hết phản ánh mâu thuẫn trong quan điểm sống của Lý Bạch. Một bên là tinh thần hăm hở, lập công, khát vọng công danh, một bên là tinh thần bảo mạng, ý muốn ẩn dật. Tuy nhiên đây không phải là câu chuyện cá nhân. Thỏ khôn chết, chó săn bị phanh thây; chim cao hết, cung tốt ném vào kho; nước địch bị phá, mưu thần đi đời, (lời Hàn Tín nói về cách đối xử của Lưu Bang đối với các cận thần) là hiện tượng xảy ra thường xuyên trong xã hội phong kiến Trung Quốc. Đằng sau những suy nghĩ tâm tư đó của Lý Bạch, chúng ta thấy bóng dáng của xã hội đương thời, một xã hội xuất hiện ngày càng rõ những dấu hiệu suy thoái.
Dù sao thì ngay từ nhỏ,Lí Bạch cũng được đi học, làm thơ, gia đình cũng thuộc loại khá giả mà còn chịu bao nổi đắng cay, huống chi quần chúng nhân dân suốt ngày chân lấm tay bùn, sống trong xã hội đầy rẫy bất công. Lí Bạch rất hiểu điều đó, nhất là những năm viễn du Lí Bạch đã chứng kiến bao cảnh đời ngang trái, bao cảnh ngộ éo le. Tuy những bài thơ thuộc đề tài đó không nhiều, nhưng cũng thế hiện được tình cảm chân thành của ông.
Người lính tham gia chiến trận:đó là những bài thơ viết về đề tài chiến tranh.Ông đưa ra một lời khuyên với tính khái quát cao:
“乃知兵者是兇器,
聖人不得已而用之”。

Nãi tri binh giả thị hung khí
Thánh nhân bất đắc dĩ nhi dụng chi!
Dịch:
Thế mới biết binh đao là đó chẳng lành
Thánh nhân bất đắc dĩ mới dùng đến nó

          Trong chiến tranh thành nam, ông dựng lại cảnh tàn phá của cuộc chiến tranh xâm lược nhằm mở rộng bờ cõi biên cương của giai cấp thống trị phong kiến nhà Đường. Cảnh tượng nơi biên tái vô cùng bi thảm: xác chết ngập đồng, ngựa mất chủ hí bi ai, quạ diều moi ruột người mắc lên cành cây khô héo, xác binh lính làm phân bón cỏ…
Đó là hình ảnh những người chinh phụ đợi chồng đã lên đường tham chiến trận. Hoàn cảnh của người chinh phụ trong bài Ô dạ đề thật đáng thương. Nàng đang dệt vải, bỗng nghe tiếng ai thì thầm bên song cửa, chạnh nhớ đến cảnh của mình, tê tái trong lòng vì nỗi cô đơn, nàng nức nở nghẹn ngào:

“停梭悵然憶遠人,
獨宿孤房淚如雨”。

Đình thoa trướng thiê chu viễn nhân.
Độc túc cô phòng lệ như vũ
         Dịch:
Dừng thoi,thẩn thờ nhớ người đi xa
Ngủ một mình trong phòng quạnh lệ như mưa.
             Một sự oán trách  rất ngây thơ và rất đáng yêu. Cái gì vào màn the đánh thức nàng? Gió, không phải chồng. Nỗi nhớ thương triền miên này thêm da diết. Phải chăng cảm xúc trước cảnh gió động màn the chỉ là của nữ giới?
             Những bài thơ phản ánh cuộc sống nhân dân lao động chiếm tỷ lệ không nhiều trong hàng nghìn bài thơ của ông, nhưng một số bài như Đinh hộ ca  sáng tác vào lúc đi chơi Giang Tô là bài thơ đáng được lưu ý, thể hiện tình cảm chân thành của ông đối với nhân dân lao động.   
         Thơ Lí Bạch có những bài viết về tình bạn. Điều đó cũng dễ hiểu, trong những năm tháng ngao du phiêu bạt, Lí Bạch kết giao nhiều bạn bè. Hơn nữa ông có sẵn một tấm lòng phóng khoáng, trọng nghĩa khinh tài, trước sau vẫn giữ được sự trong sáng của tình bạn: ở đời biết bao nhiêu là quý, cứ gì bạc với tiền.
Thơ Lý Bạch có một phong cách phóng khoáng, hào hùng, rất đặc biệt. phong cách gắn liền với nội dung và tư tưởng các bài thơ và cũng gắn liền với nhân cách của nhà thơ, lời thơ không sắp đặt, không trau chuốt, đẹp một cách tự nhiên. ( Trường Chính – thơ Đường tập 2 ). Nhìn chung thơ Lý Bạch rất đa dạng, phong phú, hùng tráng và khí thế ngang tàng, nói được cái tư tưởng của con người trước cuộc đời, vũ trụ, thiên nhiên,…đó là vẻ đẹp để người đời mãi mãi yêu mến cảm phục và cảm thông với ông!...
II.2.Tính lãng mạn   
II.2.1. Thiên nhiên trong thơ Lý Bạch
Bức tranh thiên nhiên trong thơ Lý Bạch vừa đa dạng, lại phong phú và kỳ vĩ. Thiên nhiên được Ông đưa vào thơ là những cảnh vật mà Ông đã đi qua, đã từng một lần đặt chân tới. Tuy nhiên cảnh sông nước, núi đồi và ánh trăng lại được nhà thơ miêu tả nhiều nhất.
II.2.1.1. Trăng trong thơ Lý Bạch
Trăng là người bạn tâm đầu ý hợp, là người tình tha thiết của ông .Vầng trăng lung linh sáng soi ở trời cao, ánh trăng vằng vặc rọi những tia sáng vào trong không gian vũ trụ muôn trùng, phản chiếu lồng lộng xuống đáy gương của dòng sông muôn thủa. Vẫn vầng trăng ấy, trăng của tiền kiếp xa xăm và trăng của hiện tại nhân sinh, người nay đâu thấy vầng trăng xưa, nhưng trăng thời nay vẫn sáng soi người xưa cũ, cái vầng tăng vĩnh cửu đó đã nối liền quá khứ với hiện tại tương lai và dĩ vãng, không còn cảm thấy khoảng cách không gian và thời gian. Để mà người xưa và người nay vẫn nâng chén rượu  nồng ấm để thanh thản nhìn trăng và hỏi trăng. Lý Bạch ngắm trăng một cách thích thú, mượn trăng để gửi tâm sự u uẩn của mình, trăng ở xa chót vót trên trời cao nhưng trăng củng ở thật gần, thật tha thiết chân tình trong tâm hồn nhà thơ. Thêm hơi rượu nồng chuếnh choáng đã mang những ảo tưởng chập chờn hư hư, thực thực, đã tạo nên những vần thơ huyền hoặc, đặc trưng riêng biệt của thi tiên.
Đối với Lý Bạch độc ẩm dưới trăng là một sự thích thú vô tận hơi rượu đã đem lại sự tưởng tượng vô cùng phong phú,đắc ý cho nhà thơ. Ông đã sáng tác một chùm thơ Nguyệt hạ độc chước gồm  bốn bài.Giữa bầu trời rộng rãi bao la,màn đêm vô tận được thắp sáng bởi những vì sao lấp lánh và vầng trăng lộng lẫy, chỉ một mình nhà thơ với bầu rượu:
花間一壺酒
獨酌無相親
舉杯邀明月
對影成三人
Hoa gian nhất hồ tửu
Độc chước vô tương thân
Cử bôi yêu minh nguyệt
Đối ảnh thành tam nhân
Dịch:
Mang một bầu rượu đi trong khóm hoa
Một mình rót uống chẳng có ai thân thiết
Nâng chén mời trăng sáng
Với bóng ta nữa thành ra ba người
Nhà thơ phóng tầm mắt lên  trời cao thăm thẳm. Trong trí tưởng tượng dạt dào vô biên của nhà thơ, ông cảm thấy vầng trăng kia, và chính cái bóng của mình mờ ảo đã biến hóa thành hai người cộng thêm với nhà thơ thành ba người bạn tri âm , cùng nhau nâng chén say sưa. Lúc này trăng đã trở thành một người bạn của ông, cùng ông uống rượu, chia sẻ tâm sự như một con người thật bằng xương bằng thịt. Đôi cánh trí tưởng tượng của ông đã bay vút vào vũ trụ nhẹ nhàng, yên tĩnh, thanh thoát để cùng chính bóng mình, là hai người bạn tri kỉ dưới trăng sáng nâng chén. Ánh trăng lúc này cũng được nhà thơ nhân hóa thành một con người có cảm xúc có tình cảm. Trăng trở thành người hay Lí Bạch tưởng tượng ra trăng là người? Với thơ Lí Bạch, trăng trên trời cũng phải bồi hồi , xao xuyến, quay cuồng trước lời ca, trước điệu múa của con người nơi nhân gian hạ giới(Nguyệt hạ độc chước1)
Trong thơ Lí Bạch, ánh trăng như một người bạn thân luôn luôn theo sát nhà thơ:”sơn nguyệt tùy nhân quy”_(ánh trăng trên  núi theo người đi về)
Trăng là một đề tài không thể thiếu trong thơ Đường và đương nhiên trong thơ lí bạch cũng không vắng bóng của ”Nguyệt” được. Mỗi bài thơ tùy vào cảm hứng của “thi tiên” ánh trăng được khắc họa với những nét khác nhau, nhưng tự chung dưới ngòi bút của Lí bạch trăng như một người bạn thân, một người tri kỉ, chia sẻ mọi niềm vui nỗi buồn cùng con người. Tác giả đã nhân hóa vầng trăng lên như con người vậy.
II.2.1.2 Hình ảnh ngọn núi  trong thơ Lý Bạch
Bức tranh thiên nhiên trong thơ Đường nói chung, Lí Bạch nói riêng sẽ không còn nét hùng vĩ nếu không có cảnh rừng núi. Những đỉnh núi cao lớn đã được ngoài bút phóng khoáng của thi tiên chấm phá rất chân  thật để tạo nên một bức tranh sinh động. Những dải núi Thái Hàng, Đình Sơn, Thiên San, Thú Dương, Nam Sơn…mỗi ngọn núi xuất hiện ở một địa điểm, không gian, thời gian khác nhau nên trong mắt thi nhân yêu thiên nhiên mỗi ngọn núi có vẻ khác biệt nhưng đều rất đẹp rất có hồn. Ngoài vẻ đò sộ, cao lớn thì nó còn như chứa đựng cả những suy nghĩ, tình cảm của nhà thơ.
Núi Thái Hàng vốn là hình ảnh tượng trưng cho sự uy nghi, to lớn của thiên nhiên thử thách, ý chí nghị lực con người.Muốn leo lên được núi Thái Hàng,trước tiên phải vượt qua sông Hoàng Hà lúc bình thường đã khó, thế nhưng người leo núi trong”Hành lộ nan”lại vượt sông lúc băng đã đóng đầy cả sông, tuyết mù trời chồng chất cho kín lối đi trên đỉnh núi Thái Hàng.Đỉnh Thái Hàng nằm kín trong sự bao bọc của tuyết trắng, nó cũng như một phần thưởng mà người leo núi có được nếu vượt qua được băng tuyết. Hoàng Hà thì nước đóng băng, Thái Hàng thì tuyết phủ trắng…những hình ảnh này miêu tả một cách khái quát, mạnh mẽ, một cách đầy ấn tượng những khó khăn thử thách mà con người thường gặp trên đường đời. Nhà thơ miêu tả về núi Thái Hàng như vậy nhưng nó chỉ là biểu tượng cho sự cản trở trên con đường làm quan của lí bạch, chí lớn của ông là muốn tung hoành ngang dọc, thực hiện chí lớn để ”kinh bang tế thế”:
欲渡黃河冰塞川
將登太行雪暗天
“Dục độ Hoàn Hà băng tắc xuyên
Tương đăng Thái Hàng tuyết ám thiên”
                                                                  (Hành lộ nan)
Dịch:
Muốn vượt hoàng hà băng lấp kín sông
Toan lên Thái Hàng tuyết che tới trời

Trong bài “Cổ phong”, nhà thơ miêu tả một bức tranh thoáng đãng. Ngọn núi cao mà lí bạch lên được trên đó không có tên cụ thể. Đó là ngọn núi mà khi con người lên được đỉnh sẽ trông ra xa hết tầm mắt thấy biển cả bao la, tận hưởng được sự mênh mông của vũ trụ, đất trời, sương phủ lên cảnh vật làm cho cảnh vật có một màu mới không đơn thuần là màu xanh hay vàng mà pha lẫn trong đó có màu của sương. Lên đỉnh núi nhà thơ thấy được hơi lạnh của gió núi thổi về nơi xa xôi…khi đứng trên đỉnh núi lí bạch đã cảm nhận và thấy rõ một cách toàn diện mọi cảnh vật bên dưới đỉnh núi. Nếu không lên đỉnh núi thì làm sao trông thấy được cảnh vật như vậy?  Ngọn núi trong cổ phong trở thành điểm tựa cho toàn bài thơ, nó là điểm dừng cao nhất và cuối cùng của thiên nhiên nếu ai đó muốn một lần trải nghiệm vẻ bao la của trời đất của mây gió. Ngọn núi mà nhà thơ chọn để leo lên đỉnh mới thật sự cao lớn đến mức nào nó cũng như một trung tâm điểm của cảnh vật, của cái nhìn:
登高望四海
天地何饅饅
霜被群物秋
風膘大荒寒
“ Đăng cao vọng Tứ Hải
Thiên địa hà man man
Sương bị quần vật thu
Phong phiêu đại hoang hàn.”
          Dịch:
Lên núi cao trông ra bốn bể
Trời đất mênh mang biết bao
Sương phủ màu thu lên muôn vật
Gio lùa hơi lạnh qua miền xa xôi
Con người đi trong buổi chiều tối từ núi từ núi Chung Nam xuống,đó là ngọn núi màu xanh biếc màu xanh của núi rừng khi màn đêm gần buông xuống càng đậm hơn, buổi chiều muộn gợi nên cái buồn, con người dời khỏi núi để lại cho nó màu xanh và sự cô đơn. Trăng cũng như theo người đi xuống núi, trên  núi chỉ còn lại màu xanh mênh mông chắn ngang tầm nhìn của nhà thơ khi quay nhìn trở lại:
暮從碧山下,
山月隨人歸。
卻顧所來徑,
蒼蒼橫翠微。

“Mộ tòng bích sơn há
Sơn nguyệt tùy nhân quy
Khước cố sở lai kính
Thương thương hoành thúy vi”
Dịch:
Buổi chiều từ núi biếc đi xuống
Ánh trăng trên núi theo người đi về
Nhìn lại những nơi mình đã đi qua những con đường nhỏ
Khi núi giăng ngang đỉnh núi xanh xanh
(Há chung Nam Sơn quá Hộc Tư nhân túc trí tửu)
Không phải chỉ có những ngọn núi đơn lẻ cô độc một mình trong thơ Lí Bạch núi đứng cạnh nhau, rất gần “lô nhô”. Những ngọn núi lô nhô đứng trong đất trời đã tạo nên màu” xanh biếc”đến ngút trời-đó là sức sống của núi sự trường tồn của núi, nó là nơi mà con người luôn muốn lên đến đỉnh một lần thả hồn mình ra nơi mênh mông mà không bị che chắn :”Quân tiểu bích mai thiên”-núi lô nhô xanh biếc ngút trời. Núi trong thơ lí bạch luôn có một màu xanh đậm, xanh thẳm một màu xanh trải dài bao phủ cả bầu trời dường như nó che kín cả trời đất.
Núi không chỉ là cảnh vật vô tri vô giác đối với con người nói chung với lí bạch nói riêng. Có những khi ngọn núi đó không biết nói không xoa diụ đi nỗi đau trong lòng con người nhưng nó luôn bên ta, nó như một người bạn nếu ta tìm đến nó. Chim chóc kéo nhau bay đi hết, vầng mây hững hờ trôi về nơi phương xa một cách nhàn tản, nhìn quanh mình nhà thơ thấy chẳng còn ai, chỉ còn lại mình với núi Kính Đình. Núi Kính Đình trở thành người bạn tuy không biết nói nhưng biết ở cạnh ta.
眾鳥高飛盡,
孤雲獨去閒。
相看兩不厭,
只有敬亭山。
“Chúng điểu cao phi tận
Cô vân độc khứ nhàn
Tương khán lưỡng bất yếm
Chỉ hữu kính Đình Sơn”
Dịch:
Các loài chim đã bay cao hết rồi
Một đám mây lẻ loi lững lờ trôi
Cùng nhìn nhau, cả hai không biết chán
Chỉ có núi Kính Đình với ta thôi
(Độc tọa kính Đình Sơn)
Núi Chung Nam trong Nam Sơn hiện lên với một vẻ đẹp kì vĩ. Núi Chung Nam như một bức tường thành vững vàng trước nhà, người ta bước ra cửa đã thấy nó. Ngọn núi mang một vẻ suy tư, nghĩ ngợi mãi không thôi. Núi cũng biết nghĩ hay nhà thơ nhìn thơ bằng cõi lòng thấy núi cũng như mình suy nghĩ về cuộc đời nhiều. Dưới con mắt của ông, núi Chung Nam mang một vẻ đẹp mà không thể gọi thành tên, một vẻ đẹp chỉ cảm nhận được bằng cõi lòng, bằng đôi mắt yêu thiên nhiên. Một vẻ đẹp làm người ngắm núi ngạc nhiên đến mức không biết nên gọi bằng một tên nào cho đúng, diễn tả cho đúng cho hết vẻ đẹp ấy được. Màu xanh biếc của núi choáng ngợp mắt người. Một màu xanh tươi biểu hiện cho vẻ trẻ trung, sức sống của ngọn núi. Mây trắng bay ngang qua đỉnh núi Chung Nam làm người ta nghì đó là cánh cổng trời đang mở hay khép lại. Chung Nam được ví như cổng trời, như đường dẫn lên đến tận trời xanh. Thế mới thấy núi không chỉ là đẹp mà còn kì vĩ bởi độ cao. Ngọn núi ngay trước ngôi nhà chỉ ra khỏi cửa đã thấy . Một ngọn núi mà làm cho ngươì xem tưởng rằng leo đến đỉnh là đến trời, đó là cổng trời-Chung Nam thật cao, thật hùng vĩ.
“Xuất môn kiến Nam Sơn
Dẫn lĩnh ý vô hạn
"Tú sắc nan vi danh
Thương thúy nhật tại nhãn
Hữu thì bạch vân khởi
Thiên tế tự thư quyển”
                                                  (Nam Sơn)
II.2.1.3. Hình ảnh con sông trong thơ Lý Bạch   
Thiên nhiên đa dạng, phong phú lắm:nào chim,hoa cỏ,cây cối,mây trời sông núi…Tuy nhiên nổi lên trên đó tất cả là trăng: mang đến ánh sáng nhẹ nhàng nhưng thật lung linh huyền ảo, núi rừng mang đến cảm giác trường tồn vững chắc và kì vĩ, sông nước mang đến cho con người sự chảy trôi liên tiếp.
Những dòng sông lớn như Hoàng Hà, Trường Giang…được các thi nhân đời Đường viết không ít, ở mỗi nhà thơ cảm xúc về dòng sông lại khác. Lí Bạch cũng viết nhiều về sông nước. Dù không phải cả bài tập trung để miêu tả một dòng sông nhưng hầu như mỗi bài thơ của mình Lí Bạch cũng nhắc đến một con sông có khi là vô danh. Điều đó cho thấy sông không phải chỉ là cảnh vật tự nhiên mà nó gần gũi lắm, tha thiết với lòng người. Những cảnh sông nước trong thơ Lí Bạch cũng rất đẹp, rất thơ mộng và mỗi dòng sông mang một tình cảm, xúc cảm riêng của thi nhân.
Dòng sông Trường Giang rộng lớn, dài tít tắp. Nơi đây đã chứng kiến cảnh đưa tiễn, chia tay của Mạnh Hạo Nhiên và Lí Bạch. Trường Giang như chạy mãi tới chân trời, lẫn với trời xanh để ra biển khơi. Trong cảnh chia tay ấy chỉ có hai người bạn, một dòng sông một cánh buồm.  Cái to lớn rộng rãi của Trường Giang đã thu nhỏ lại, cánh buồm đơn lẻ của con người. Và con sông sẽ trở nên rộng bao la khi cái hữu hạn của nó đồng nhất với cái vô hạn của bầu trời. Rõ ràng, sau khi tiễn bạn lên đường, Lí Bạch dừng lại khá lâu dõi mắt nhìn theo chiếc thuyền buồm lẻ loi đến tận chân trời xa tít. Lí Bạch mượn cái khung cảnh thiên nhiên sau buổi tiễn đưa để nói lên tình cảm nhớ bạn da diết.
故人西辭黃鶴樓,
煙花三月下陽州。
孤帆遠影碧空盡,
惟見長江天際流。
“Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu
Cô phàm viễn ảnh bích không tận
Duy kiến trường giang thiên tuế lưu"
Dịch:
Bạn cũ giã từ lầu Hoàng Hạc đi về phía miền Tây
Xuống vùng Dương Châu trong cảnh hoa khói tháng ba
Bóng cách bồm xa xa cô đơn nhòa vào bầu trời xanh
Chỉ thấy con sông Trường Giang chảy lẫn chân trời .
(Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên)
Dòng Trường Giang rộng lớn vô tận, còn Hoàng Hà trong thơ Lý Bạch lại là một dòng sông đầy khó khăn trắc trở như muốn thử thách nghị lực của con người ngăn trở ý muốn vượt sông của nhà thơ:
“Dục độ Hoàng Hà băng tắc xuyên”
( Hành lộ nan)
Con người muốn vượt sông Hoàng Hà để leo lên núi Thái Hàng thế nhưng đâu dễ, lúc bình thường đã khó khăn lắm rồi nay sông lại đóng thành băng đâu phải dễ đi, muốn qua Hoàng Hà lúc này phải vượt qua băng.
Thế nhưng cũng có những dòng sông, dòng thác trong thơ ông lại rất đẹp thơ mộng và rất hùng vĩ. Dòng thác ở núi Lư là một điển hình:
日照香爐生紫煙,
遙看瀑布掛前川。
飛流直下三千尺,
疑是銀河落九天。
Nhật  chiếu hương lô sinh tử yên
Dao khan bộc bố quải tiền xuyên
Phi lưu trực há tam thiên xích
Nghi thị Ngân Hà lạc cửu thiên
Một cảnh đẹp hiếm có được tạo ra từ thác trên ngọn Hương Lư, màu nước thác Bộc Bố trên ngọn Hương Lư về buổi chiều khi mặt trời chiếu những tia nắng không gắt vào, rọi thẳng vào dòng nước chảy từ độ cao 3000 thước so với mặt đất làm cho hơi nước có một nàu sắc mới nên núi mới bốc được hơi tía hơi nước dưới ánh mặt trời có màu tía.
Dòng Trường Giang thì rộng lớn mêng mông gợi cho người ta cảm giác cô đơn vắng lặng. Còn dòng thác Bộc Bố - một dòng thác từ lưng chừng trời đổ xuống làm cho người xem không tin đó là dòng thác của nhân gian mà nó là dòng sông ngân hà của trời từ chín tầng mây xuống. Thác Bộc Bố mang vẻ đẹp của cảnh vật tiên. Mỗi dòng suối xuất hiện trong thơ Lý Bạch luôn mang một vẻ đẹp, một nét riêng và nó chứa đựng cả tình cảm suy tư của chính nhà thơ.
II.2.2. Rượu và thơ trong thơ Lí Bạch
Rượu cũng là một trong những đề tài mà Lí Bạch cũng như những nghệ sĩ mượn nó để giải bày tâm sự, tình cảm của mình. Nếu như “Độc tọa kính đình sơn” ta thấy một tâm hồn kì vĩ yêu thiên nhiên, phóng khoáng, với “tĩnh dạ tứ”là nỗi niềm nhớ quê hương, có trăng là bạn có núi là bạn thì ta cũng bắt gặp cái ngạo nghễ, thấy tư tưởng cao ngạo của Lí Bạch cùng với rượu giải bày tâm sự của mình.
Có thể nói thi và tửu như đôi chim liền cánh, như cây liền cành, rượu không thơ thì rượu vô vị, nhạt nhẽo, thơ không rượu thì thơ vô tình tẻ ngắt. Thi nhân gặp những điều phiền muộn, đã muốn lẫn trốn vào rượu, từ đó men rươụ đã tác động cho hồn thơ nảy sinh, bộc phát, cuồn cuộn tuôn trào và khơi nguồn cho người thơ giãi bày tâm sự u uẩn, thầm kín, chất ngất trong lòng người ấm ức đã lâu. Lí Bạch đã đắc ý khi thét lên câu thơ phóng khoáng, hào sáng:
“古來聖賢皆寂寞,
唯有飲者留其名。”
“Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch
Duy hửu ẩm giả lưu kì danh”
Dịch:
Xưa nay thánh hiền đều im ắng
Chỉ có kẻ uống rượu là lưu lại danh mãi
Cái rượu cái say của Lí Bạch không phải là cái say chè chén, bê tha phàm phu tục tử, mà qua đó người ta thấy thật sự cái “say” sâu xa đó là cái say men đạo đức:

“三杯通大道,
一斗合自然”。
“ Tam bôi thông đại đạo
Nhất đấu hợp tự nhiên”
Dịch:
Ba chén thông đạo lớn
Một đấu hòa hợp với tự nhiên
Lí Bạch có nhiều bài thơ về rượu, mỗi bài thơ đều ẩn chứa tâm tư riêng của nhà thơ. Trong bài “nguyệt hạ độc chước” ngay vào câu thơ đã thấy đặt ra những câu hỏi, rồi lại trả lời-một lý giải, đáp án cho câu hỏi đặt ra:
“天若不愛酒,
酒星不在天。
地若不愛酒,
地應無酒泉。”

“thiên nhược bất ái tửu
Tử tinh bất taị thiên
Địa nhược bất ái tu
Địa ứng vô tửu tuyền”
Dịch:
Trời nếu như không thích rượu
Thì sao rượ không ở trên trời
Đất nếu như không thích rượu
Thì đất không có suối rượu
Để rồi lý giải như một điều tất yếu:
“天地既愛酒,
愛酒不愧天。”
“Thiên địa kí ái tửu”
Ái tửu bất quy thiên
(Trời đất đều thích rượu)
Thì ta đây thích rượu cũng không hổ thẹn với trời
Ta thấy với hơi men nồng chuếnh choáng, với bản lĩnh ngông ấy, dưới trời cao thăm thẳm với vầng trăng làm bạn thì Lí Bạch đã chẳng bao giờ chuốc lấy nỗi buồn lo quá đỗi, xem thường đời, xem nhẹ công danh phú quý, chỉ muốn say vào cái thú tiêu dao tự tại, cùng rượu làm bạn với tự nhiên, trong cuộc vui vầy trăng sao,hoa cỏ:
“花間一壺酒,
 獨酌無相親;
舉杯邀明月,
 對影成三人”。
“Hoa gian nhất hồ tửu
Độc chước vô tương thân
Cử bôi yêu minh nguyệt
Đối ảnh thành tam nhân”
Dịch:
 Mang một bình rượu đi trong khóm hoa
Một mình rót rượu không có ai thân thiết
Ngẩng đầu mời  trăng sáng
Trước bóng ta nữa thành ra ba người
Cùng cuộc vui Lí Bạch như thả hồn mình trong men say chuếnh choáng như quên đi sự đời:
Tỉnh thời đồng giao hoan
Túy hậu các phân tán
Dịch:
Lúc thỉnh thì cùng vui vầy
Khi say sưa mỗi thứ xa rời một nơi
Những lúc ngã lòng, chán đời là những lúc người làm thơ tìm đến rượu như một liều thuốc giải khuây, để phá tan những u uất trong lòng, những phiền muộn trên cõi đời ô trọc tục lụy, giải bày suy nghĩ:
“Vạn sự cố nan thẩm
Túy hậu thất thiên địa
Ngột nhiên tựu cô chẩm
Bất tri hữu ngô thân
Thử lạc tối vi thậm”
Dịch :
Vạn sự vốn khó xem xét,
Say rồi thì chẳng coi trời đất ra gì
Ngật ngưỡng đến với cái gối chiếc
Không cần biết có thân ta nữa
Niềm vui ấy mới thật là tột cùng
Lí Bạch chỉ mong:
“Đản đắc túy trung thú
Vật vi tỉnh giả tryền"
Dịch:
Chỉ mong được cái thú say khướt mà thôi
Chứ đừng làm kẻ tỉnh để mà được truyền tụng

          Say-xa rời thực tại, muốn chìm đắm trong men, thà làm kẻ say chứ không làm người tỉnh, điều đó thể hiện cái “ngây” của nhà thơ, một cái khác biệt với các nhà thơ khác.
Đối với Lí Bạch rượu và thơ là đôi bạn tình lý tưởng, rượu cũng đã khơi nguồn thơ vô tận và thơ đã đắm chìm trong men rượu, rượu thơ là nguồn chất xúc tác tương hỗ lẫn nhau.
Lí Bạch cũng có chịu ảnh hưởng nhất định của tư tưởng Đạo gia. Sự đả kích, phản kháng giai cấp thống trị, ông cũng không khỏi để lộ ra thứ tinh thần cô độc, tiêu trầm, tư tưởng “Nhân sinh mộng”, “Nhân thế vô thường”, rồi định uống cho say, cầu tiên phỏng đạo, ngao du sơn thủy, làm nhẹ bớt đau khổ, buồn bực của mình. Đó là cực lạc hậu nhưng không phải là mặt chủ đạo. Trong “ Lời tựa bài bia mộ mới của ông Lí hàn lâm học sĩ, Tả thập di đời Đường, Phạm Truyền nói ông “uống rượu không phải là lấy cái say sưa lạc thú, không phải lấy các mê muội làm giàu sang; làm thơ không phải ở chỗ văn chương, âm luật đẻ ngâm nga cho vui thích, theo thàn tiên không phải hâm mộ cái phù phiếm của nó, cầu xin những cái không thể cầu xin được”. Chính Lí Bạch trong “Lời tựa bàn thơ cuối xuân ở Giang Lăng tiễn đưa Trương Tổ giám thừa đi Đông Đô” cũng nói: “tôi ngồi trong phòng sách buồn bực cũng đã lâu rồi. Mỗi lần muốn trèo lên ngọn Bồng Lai nhìn xa ra bốn bể, tay sờ mặt trời đầu đội vòm mây xanh, rủ sạch những nỗi u uất buồn giận, nhưng không thể được”. Những lời nói đó chứng tỏ việc ông ấy uống rượu, tìm tiêu ngao du sơn thủy không phải là mong được siêu thoát, chẳng qua là mượn cớ để rũ sạch nỗi u uất buồn giận mà thôi. Nỗi u uất, buồn giận vì giai cấp thống trị. Nhiều bài thơ liên quan đến việc uống rượu tìm tiêu, vẫn sáng ngời tư tưởng, mang lại sự cổ vũ mạnh mẽ khinh thường phú quý “Ngọc tiền chuông trống mặc ai”,và tinh thần tích cực “sinh ta trời ắt có chỗ dùng ta”...
Khi bàn về rượu và thơ, thi sĩ Tản Đà đã có 4 câu:
“Trời đất  sinh ra rượu với thơ
Không thơ không rượu sống như thừa
Công danh hai chữ mùi men nhạt
Sự nghiệp trăm năm nét mịt mờ”
(Ngày xuân thơ rượu)
Như vậy có thể nói Thi và Tửu đã góp phần cho ta thấy rõ tư tưởng của Lí Bạch, đưa tới cái riêng của ông.
II.3. Tính hiện thực
II.3.1. Cuộc sống xa hoa của giai cấp thống trị
Lí Bạch sống vào khoảng cuối thời đại thịnh đường. Mặc dù cuộc sống lúc đó hãy còn vui tươi nhưng bên trong cái vẻ phồn vinh của nhà đường, vẫn có những cảnh đời đau thương và ngang trái. Trên thì vua chúa hoang dâm vô đạo, dưới thì quan lại tham tàn bức hiếp nhân dân gây nên những cảnh máu chảy đầu rơi. Lí bạch là nhà thơ yêu nước đang có hoài bão lớn nhưng gặp phải cảnh đời đen tối : giai cấp thống trị “ lấy châu ngọc mua tiếng cười điệu hát, dùng tấm cám nuôi dưỡng hiền tài” nên ông chán ghét, lấy rượu làm vui chơi say như một thế giới lý tưởng :
Này cỗ ngọc , nhạc rung chẳng chuộng
Muốn say hoài chẳng muốn tỉnh chi !
Thánh hiền tên tuổi bặt đi,
Chỉ phường thánh rượu tiếng ghi muôn đời!
         Mấy câu thơ toát ra giọng u buồn, bất mãn và khinh miệt công danh. Chính trong cơn say Lí Bạch càng tỏ ra hiên ngang, dám khinh mạn triều đình và coi thường bọn quyền quý. Đỗ Phủ từng mô tả cái say của ông trong bốn câu thơ :
Lí Bạch một đau thơ trăm thiện
Rượu say nằm ngủ chợ liên miên
Lệnh vua cho gọi không xuống thuyền
Tự xưng làng rượu tớ là tiên!
( bài ca tám tiên trong làng rượu)
         Say để tiêu sầu giải muộn, để quên những cảnh đời ô trọc, đồng thời cũng để cưỡng lệnh nhà vua, để bắt anh nàng Dương Quý Phi cầm nghiên mực cho mình đề thơ, bắt cao lực sĩ cởi giày cho mình ngủ, say như thế thật là hiếm có không phải ai say cũng được. Cho nên Phạm Truyền Chính là người đề trên bia mộ lí bạch viết : “uống rượu không phải vì ham vui, lấy cái mờ mịt của nó lamg giàu cho mình
         Bài thơ Tương Tiến Tửu ra đời vào năm 752, tức là ba năm trước khi An Lộc sơn nổi loạn. mâu thuẫn giai cấp lúc đó đã trở nên gay gắt. Bối cảnh lịch sử đó đã được Đỗ Phủ khái quát trong hai câu thơ :
Nhà son rượu thịt ôi
Bên đường sương chết buốt!
(từ kinh đô di phụng tiên)
         Đứng trước cảnh đời giàu nghèo khác nhau một trời một vực đó, Lí Bạch đã thay mặt cho tần lớp trí thức tiến bộ tỏ ý khinh mạn công danh và ghẻ lạnh với cuộc đời phù phiếm, như vậy là một sự thác thức đối với giai cấp thống trị. Hiện nay có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Tương Tiến Tửu là một bài thơ “biểu hiện sự phản kháng đối với trật tự của cả một xã hội đang tồn tại”. Thiết tưởng cũng không phải là sai. Nhưng xét về ảnh hưởng của nó với đời sau thì Tương Tiến Tửu có mặt tốt, đồng thời cũng có mặt không tốt. Tốt ở chỗ nó phủ nhận công danh, phủ nhận cái hiện thực đen tối trước mắt, đưa con người đến chỗ mơ ước tự do và đòi hỏi giải phóng. Không tốt ở chỗ nó mơn trớn những người có tư tưởng cá nhân hưởng lạc. Ngay đời Đường, sau Lí Bạch còn có hơn 10 bài Tương Tiến Tửu khác, nhưng phần nhiều đều chạy theo xu hướng bi quan hoặc trụy lạc. Tương tiến tửu của Lý Hạ thời trung đường viết:
Anh hãy say, say cho túy lúy,
Rượu đào không đến mộ Lưu Linh!
II.3.2.  Lòng yêu nước và lòng yêu thương con người
         Đối với con người Lí Bạch có một tình cảm chân thành, tha thiết. Đối với đất nước và nhân dân, Lí Bạch gắn bó, yêu thương. Vì lòng yêu nước tha thiết nên Lí Bạch thông cảm sâu sắc đối với nỗi khổ đau của nhân dân. Ông quyết tâm “cứu giúp dân đen” và “làm yên xã tắc”. Trong bài “tái hạ khúc” Lí Bạch nêu lên quyết tâm yêu nước, chống giặc ngoại xâm:
Nguyệt chi đánh tan hết
Bấy giờ khỏe tấm than
Hay:
Bên lưng đeo bảo kiếm
Chí quyết chém lâu lan
         Khi quân của Lý Lân bị Túc Tông đánh bại, từ Đan Dương chạy về Nam, Lí Bạch viết nên những vần thơ tràn đầy nhiệt tình yêu nước qua bài “Nam bồn thư hoài”
Qua sông thề với nước
Chí muốn yêu cõi bờ
         Đối với cuộc chiên tranh dùng vũ lực, mở rộng lãnh thổ của nhà đường, Lí Bạch cực lực phản đối. Ông không đồng tình với các cuộc chiến  tranh xâm lược các dân tộc ở Tây Bắc và Tây Nam; bài “chiến tranh thành nam”, tác giả dùng những hình tượng nghệ thuật sinh động, rõ nét để phản ánh những tai họa nặng nề mà binh sĩ phải chịu:
Sa trường đâm nhau chết
Ngựa ai ngơ ngác nhìn hí trời
Binh lính thây bón cỏ
Tướng quân bó tay rồi
             Cuối cùng ông nêu lên một nguyên tắc đúng đắng về chiến tranh
Mới hay: gươm đao là vật gở
Thánh nhân bất đắc dĩ mới dùng thôi
         Đối với nhân dân lao động, thái độ của Lí Bạch rất chân thành, sâu sắc. Ông thấu hiểu: “ nhà nông mùa màng khó nhọc, cô gái hàng xóm đêm khuya giã gạo lạnh lùng”. Trong bài “ Đinh đô hộ ca” nhà thơ tỏ lòng đồng tình với nhân dân lao động giữa trời nắng như thiêu như đốt phải phơi trần, nai lưng kéo từng thuyền đá nặng trên sông:
吳牛喘月時
拖船一何苦
水濁不可飲
壺漿半成土
Ngô ngưu suyễn nguyệt thì
Đà thuyền nhất hà khổ
Thủy trọc bất khả ẩm
Hồ tương bán thành thổ
         Dịch:
Trâu xứ Ngô thử phì phò dưới trăng
Người kéo thuyền vất vả biết bao
Nước đục ngầu không uống được
Chất lỏng trong bầu một nửa thành đất
         Tình thương của Lí Bạch đối với nông dân (trong bài Thu phố ca), nông dân và tập trung cao độ là phụ nữ. Trong bài “ Thiếp bạc mệnh” và “ Bạch đầu ngâm” ông đã kích tình trạng có mới nới cũ của đàn ông, đồng thời nêu lên nỗi khỗ đau tủi hờn của người phụ nữ có chồng bị ruồng bỏ. Trong bài “Dạ tọa ngâm” và “Dương bạn nhi”  nhà thơ nói lên tình yêu chân chính phải được xây dựng trên cơ sở nam nữ phải hiểu biết và thất sự thương yêu nhau. Muốn thực sự hạnh phúc dài lâu, họ phải thương yêu nhau, tâm đầu ý hợp.
         Tình yêu của người chinh phụ cũng là một nội dung nổi bật trong thơ Lí  Bạch. Các bài “Ô thê khúc”, “Ô dạ đề”, “Đảo y thiên”, “Quan sơn nguyệt”, “Song yến ly” và “Xuân tứ” đều nói lên tình cảm đau khổ, xót xa, chia lìa giữa chinh phụ và chinh phu. Bài “Xuân tứ” có nỗi buồn thương triền miên không gì bù đắp nối người vợ có chồng đi chinh chiến lâu ngày. Cái cảm xúc “gió động màn” của người vợ trẻ phòng không gối chiêc ấy, chỉ có người trong cuộc mới có. Chứng tỏ nhà thơ am hiểu sau sắc nhân vật của mình:
Khi chàng tưởng nhớ ngày về
Chính là khi thiếp tái tê nỗi lòng
Gió xuân ai biết cho cùng
Cớ sao len lỏi vào trong màn là?
Bài “Ô dạ đề” lại càng day dứt hơn:
Tần Xuyên cô gái buồng thêu
Song sa khói tỏa khêu chuyện ngoài
Dừng thoi buồn bã nhớ ai
Phòng không chiếc bóng giọt dài tuôn mưa
         “Trường can hành”và “ Giang hạ hành” là hai bài thơ tình yêu sâu sắc của Lí Bạch. Hai bài thơ toát lên chủ đề chung là sự đồng cảm, xót thương của Lí Bạch đối với những đau khỗ của người phụ nữ có chồng là thương nhân, ham lợi, đi buôn bán xa không quan tâm, lo nghĩ gì đến tình cảm lẻ loi, đơn chiếc và đầy lo âu của người vợ ở nhà. Kết thúc bài “Giáng hạ hành” là những câu chua xót:
Thà lấy chồng nghèo khổ
Sớm tối có bên nhau
Chớ làm vợ khách thương
Để đời ta đau khổ
II.3.3. Hình ảnh người phụ nữ
         Do Lí Bạch sống chủ yếu ở thời thịnh Đường, lại do khát khao cái đẹp, cái bay bổng diệu kỳ của một nhà thơ lãng mạn mà ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ và nói đến những trăn trở thầm khín của họ. Tuy nhiên bất kể đối tượng xã hội nào, nếu là người đẹp, một vẻ đẹp đầy nữ tính đều tạo nên nguồn cảm hứng mạnh cho nhà thơ. Bài “Thái liên khúc” miêu tả cô gái hái sen thoắt ẩn thoắt hiện giữa một không gian đầy hoa, hoa trên đầm sen, hoa dưới nước. Mấy cô thôn nữ đã hiện về như những nàng tiên giáng trần. Ba bài Thanh bình đệu tả vẻ đẹp của nàng Dương Quý Phi thật mê hồn. Nhưng điều cần nói là trong mắt Lí Bạch, Dương Quý Phi không hiện lên với vẻ đẹp kiêu sa của một cung phi mà chỉ là vẻ đẹp của một người đẹp trong suốt và ẻo lả. ta nhớ lời thơ của ông:
Nước trong sẽ nở hoa sen
Thiên nhiên là đẹp chớ nên vẽ vời
         Bởi vậy, lòng đồng cảm của ông dành cho phụ nữ là lòng đồng cảm với phái đẹp và cũng là phái yếu. Ông hiểu thấu nỗi trăn trở đầy nữ tính của họ.
III. Gía trị thơ ca
III.1. Gía trị nội dung
Lí Bạch dời quê hương đi tìm đường thực hiện hoài bão, ước mơ, những mong dân chúng yên vui, đất nước được thanh bình, vào năm ông 25 tuổi. Trải qua thời gian phụng sự cho vua Đường Huyền Tông, rồi Lý Lân (em Lý Hanh) với nhiều biến cố cuộc đời cũng như sự nghiệp, những năm cuối đời long đong phiêu bạt và mất năm 762 vì bị bệnh. Ông là nhà thơ lãng mạn nổi tiếng đời Đường- Trung Quốc, được mệnh danh là thi tiên (tiên thơ), nội dung tư tưởng thơ ca của ông phong phú, phức tạp. Là người có tài song không được dụng đã làm cho tư tưởng và sáng tác thơ ca của ông mang những mâu thuẫn, phức tạp, tuy nhiên vẫn thể hiện sự lạc quan, hào phóng. Thơ của ông một mặt phơi trần cái xấu xong việc biểu hiện cái đẹp, lý tưởng tươi đẹp của cuộc sống, trong thiên nhiên trong lịch sử, thể hiện cái đẹp lý tưởng vẫn giữ vai trò chủ đạo trong thơ ông.
          Gía trị nội dung trong thơ Lí Bạch được thẻ hiện ở nhiều khía cạnh. Song tập trung nhất vẫn là tâm trạng bất đắc chí của người có tài mà không được trọng dụng, không thể đem cái tài đó ra để " kinh bang tế thế", là tấm lòng yêu nước sâu sắc, là sự đồng cảm, xót thương cho số phận con người cũng như số phận người phụ nữ...
          Sống vào lúc chế độ phong kiến đã thối rữa, mục nát lại là người có tài mà không được dùng, Lí Bạch phẫn uất, mâu thuẫn cũng là điều dễ hiểu.
           Phải  yêu quê hương, đất nước thì nhà thơ mới có thể tả được những con sông, những ngọn núi trên  đất nước mình trang lệ đến vậy.Lòng yêu nước của Lí Bạch chính là bắt nguồn từ lòng yêu sông núi quê hương vậy. Các bài thơ như : Vọng lư sơn Bộc Bố, Tĩnh dạ tứ... là minh chứng cho tình yêu thiên nhiên, quê hương đất nước nồng nàn, tha thiết của nhà thơ.
          Những vần thơ của ông còn là nỗi xót xa thương cảm đối với người dân lao động nghèo khổ, về những nỗi khổ cực, về những tầng áp bức họ phải chịu đựng. Qua đó ông bày tỏ thái độ căm phẫn với giai cấp thống trị: “ lấy châu ngọc mua tiếng cười điệu hát, dùng tấm cám nuôi dưỡng hiền tài” .Không chỉ vậy, ông còn đồng cảm với những người phụ nữ. Bài Xuân tứ nói đế nỗi tê tái của người vợ trẻ có chồng tiễn biệt nơi biên cương.Cái cảm xúc "gió động màn của người vợ trẻ ấy chỉ có người trong cuộc mới có. Cũng như vậy Tý dạ ngô ca nói đến nỗi niềm người phụ nữ giặt áo bông khi gió heo may về để kịp gửi cho người chinh chiến phương xa. Trường can hành, Ngọc giai oán,..cũng đều bày tỏ về nỗi lòng người phụ nữ.
          Tóm lại, chủ nghĩa nhân đạo ở mỗi nhà thơ lại có biểu hiện khác nhau. Ở Lí Bạch, một nhà thơ phóng khoáng, bay bổng thì lòng đồng đồng cảm với cái đẹp ,sự xót xa trước cái đẹp bị vùi dập, bị chà đạp lại là biểu hiện chủ yếu của chủ nghĩa nhân đạo của nhà thơ. Lí Bạch để lại hơn 1000 bài thơ, cùng với Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị, Lý Bạch tạo thành bộ ba nhà thơ lớn nhất đời Đường, có ảnh hưởng lâu dài tới văn thơ Trung Quốc.
III.2. Giá trị nghệ thuật
         Toàn bộ tác phẩm của Lí Bạch bao gồm hai nhân tố lãng mạn và hiện thực, nhưng nói về khuynh hướng chủ đạo thì ông là bậc thầy của chủ nghĩa lãng mạn tích cực. Ông có tiếp thu ảnh hưởng của Thi kinh, nhưng ảnh hưởng sâu sắc nhất đối với ông vẫn là Sở từ của Khuất Nguyên. Hai nhà thơ sống cách nhau nghìn năm ấy có những nét tương đồng về lý tưởng chính trị, nỗi bất hạnh trong cuộc đời, tinh thần phản kháng thế lực hủ bại không hề khoan nhượng và những phẩm chất trong sạch cao quý. Về mặt nghệ thuật văn chương, trong lối tự sự ngôn chí thuật hoài cũng như miêu tả, Khuất Nguyên cũng xây dựng được một loạt hệ thống hình tượng sinh động, đẹp đẽ , kỳ vĩ và khá hoàn chỉnh nhằm phản ánh chân thực mâu thuẩn xã hội và xung đột nội tâm. Từ đó người đọc nhận ra lý tưởng, tình cảm mãnh liệt, cùng hoài bão to lớn của tác giả. “Huyền thoại hóa” có thể nói là bút pháp chủ đạo của Ly tao, Cửu chương, cửu ca…
         Lí Bạch kế thừa Khuất Nguyên nhưng phát huy cao hơn tinh thần sáng tạo, cách tân. Trước hết ông thường xuyên dùng thủ pháp khoa trương của thơ ca dân gian và trí tưởng tượng phong phú trong mọi đè tài. Ông thông qua cảnh giới thần tiên, ảo tưởng, siêu phàm để thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của bản thân, lấy chuyện ngày xưa để nói việc hiện thời, nhất là khi ông muốn bày tỏ lòng căm ghét đối với kẻ thù  tàn bạo hay phê phán, đả kích chúng. Ông lại gởi gắm tâm hồn, tư duy của mình vào thiên nhiên. Thiên nhiên như một người bạn tâm tri tâm đắc, hiểu rõ nỗi lòng đau khỗ, cô đơn của ông, an ủi và khuyến khích, giúp đỡ ông xua tan những cái xấu xa, đưa lại những điều tốt đẹp. tủ pháp nhân hóa đó quả là mới mẻ, táo bạo, nẩy sinh từ sức tưởng tượng khác thường, đưa tình cảm sôi nổi và nguyện vọng thiết tha của nhà thơ vào đối tương được miêu tả, khiến thơ ca của ông giàu ý nghĩa và sức lôi cuốn.
         Trong những đề tài khó miêu tả thì ông kết hợp khéo léo các cách thể hiện tính lãng mạn như thần thoại hóa, nhân cách hóa, khoa trương ảo tưởng lại vơi nhau, với một thứ ngôn ngữ hào phóng, đẻ tạo nên những hình tượng nghệ thuật kì vĩ, biểu hiện những lý tưởng và nguyện vọng đẹp đẽ cũng như lòng yêu ghét mãnh liệt do hiện thực khêu gợi ra. Trong bài “ Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt” chẳng hạn những hình ảnh “Thiên Mụ ngang trời chắn núi xanh”, “ mây xanh xanh chừ mưa tới”, “nước thăm thẳm chừ khói loang”, những âm thanh “ gấu thét rồng gào suối dội vang”, “ sấm vang chớp giật, Gò sụt núi tan” ứng với những so sánh,ẩn dụ, nhân hóa “rứng sâu khiếp chừ núi kinh hoàng”, “mống làm áo chứ gió làm ngựa”, “loan kéo xe chừ hổ gảy đàn”,… tạo nên mộ thế giới lạ lung, hung vĩ, bí ẩn, đưa tâm hồn con người lên tầm cao rộng, thoát khỏi cuộc đời tầm thường, nhỏ mọn hằng ngày.
         Lại nữa Lí Bạch kế thừa có phê phán chọn lọc truyền thống tố đẹp của thơ ca Hán-Ngụy trở về sau, đồng thời ra sức học tập thơ ca dân gian quá khứ và đương đại, nên có những thành tựu trác việt về ngôn ngữ nghệ thuật: sinh động, hoa mỹ, trau chuốt nhưng trong sáng, giản dị, tự nhiên. Thơ ông không hề có dấu vết chạm trỗ tỉ mỉ, công phu, “áo nhà trời không có đường may”, mà thật đẹp, thật hay. Thơ nhạc phủ của ông chiếm phần đáng kể. Ông dung đề mục cũ để sang tạo ý mới, truyền lại hơn mộ trăm bốn mươi bài. Những bài ông tự đặt ra đề mà làm cũng rất giàu phong cách dân ca (tĩnh dạ tư…)Thơ thát ngôn tuyệt cú của ông- cũng như của Vương Xương Linh-là thất ngôn tuyệt cú bậc nhất thời  Đường. Làm thơ luật ông cũng không câu nệ thanh vận, đối ngẫu.
         Mặt khác thơ Lí Bạch gắn với con người ông, mang một phong cách độc đáo. Ông kế tục sự nghiệp của Trần Tử Ngang, Trương Cửu Linh thời trước phát động phong trào phục cổ, chống khuynh hướng ủy mị, trọng thanh luật nhưng đối với ông phục cổ không phải là nệ cổ. Ông chỉ lấy thi phong Hán –Ngụy  và đề mục nhạc phủ để từ đó vươn lên, sang tạo cái mới chứ không mô phỏng từ cú. Thơ Lí Bạch mang vẻ mạnh mẻ tự nhiên, tươi mát vô cùng. Đề tài rất rộng rãi, hình thức rất tự do. Sống giữa thời tịnh đạt mà ông ít làm thơ luật, mà thơ luật của ông nói trên cũng thoát ra khỏi cái gò bó của niêm đối…
         Dưới ngòi bút tài hoa của ông hiện ra cảnh núi sông thanh tú, cảnh chiến trường hùng vĩ, vầng trăng lồng lộng giữa bầu trời cao bát ngát theo dõi ông máy chục năm từ núi Nga Mi đến hồ Thái Bạch, người hiệp sĩ vung gươm làm việc nghĩa không hề nghĩ đến bản thân; người thiếu phụ thao thức cốn phòng khuê vò võ nhớ thương, nhà ẩn dật cao cả bên bầu rượu coi khinh hết thảy khanh tướng công hầu…Không có gì ngăn trở nỗi trí tưởng tượng sáng tạo mãnh liệt của ông được, và bất cứ đề tài nào, thơ ông cũng giàu xúc động, luôn bay bổng, phóng khoáng, uyển chuyển, khó có thể liệt ông vào một “trường phái” nhất định nào. Ngôn ngữ thi ca của ông khi thì tung hoành mạnh mẽ như “nộ đào hồi lãng”, “thiên mã hành không”.
IV. Tổng Kết
Nói chung, thơ Lí Bạch hào phóng, tự nhiên, phản ánh một tâm hồn cao khiết, ngang tang, “ngoài vòng cương tỏa”, thiết tha yêu cuộc sống, yêu đất nước, yêu nhân dân, mang tính tích cực của thời đại. Người đời gọi ông là “Tiên thơ”, cùng với Đỗ Phủ là “Thánh thơ” và Bạch Cư Dị là “Sử thơ”, làm khởi sắc cho cả một thời đại văn học về thơ ca trong lịch sử văn học Trung Quốc.

Nhãn: , , .
.

Ngày đăng: Chủ Nhật, ngày 09 tháng 10 năm 2011

Đã xem : Lần

0 nhận xét

Đăng nhận xét

[▼/▲] More Emoticons
:)) ;)) ;;) :D ;) :p :(( :) :( :X =(( :-o :-/ :-* :| 8-} :)] ~x( :-t b-( :-L x( =))

Đăng ký: Đăng Nhận xét (Atom)